Nỗi đau tận cùng của người cha chôn 12 con trong cát trắng

Mười hai lần tự tay chôn cất những núm ruột của mình, giọt nước mắt đau khổ của người cha nhỏ xuống cát, khô khốc và bỏng rát, cuộc tiễn đưa những đứa con chỉ có thế và chỉ có nỗi đau là quặn lại.

Người đầu bạc tiễn kẻ đầu xanh

Mười hai lần chịu cảnh người tóc bạc tiễn kẻ đầu xanh, ông tự tay đưa các con về cùng chôn cất bên cồn cát sau nhà, để anh em có nhau cho đỡ cô quạnh ở thế giới khác.

Người cha bất hạnh đó chính là ông Đỗ Văn Dịu, sinh năm 1952. Năm 1970, khi mới tròn 18 tuổi, ông cùng nhiều thanh niên khác lên đường nhập ngũ theo tiếng gọi Tổ quốc. Rồi sau khóa huấn luyện ngắn hạn, ông được điều động vào chiến đấu tại khu vực Khe Tre – Khe Sầu, tại A Lưới, Thừa Thiên Huế và nằm vùng tại đây suốt 5 năm ác liệt nhất của cuộc chiến.

Nỗi đau tận cùng của người cha chôn 12 con trong cát trắng

12 lần tư tay chôn cất 12 đứa  con lần lượt ra đi, ông Địu chỉ còn biết nhỏ những giọt nước mắt đau khổ xuống mặt cát khô khốc

Ông cho biết, những ngày ở chiến trường, mình và đồng đội nhìn rõ máy bay Mỹ kéo qua bầu trời Khe Tre, Khe Sầu và rải xuống một thứ bột trắng mù mịt. Bột vương tới đâu là cỏ cây, rừng chết bạt ngàn tới đó.

Nhiều người hít phải thứ bột này đã chết và một đồng đội của ông bị nhiễm độc, vết thương trên người lở  loét, thịt thối dần rồi cũng không qua khỏi. Mãi sau này, khi hòa bình lập lại và chứng kiến thêm nhiều di chứng nữa, ông Địu mới biết thứ bột trắng năm nào chính là chất độc màu da cam.

Năm 1976, ông được về phép và đã làm một đám cưới nho nhỏ rước cô thôn nữ Phạm Thị Nức về một nhà. Sau đám cưới, ông lại từ biệt vợ và tiếp tục vào Huế. Một năm sau đó, ông vui mừng nhận được tin báo vợ vừa hạ sinh một cậu con trai kháu khỉnh.

Tuy nhiên, niềm vui làm cha chưa được bao lâu thì chỉ vài tháng sau, ông nhận được tin con mất do chứng phình to đầu. Quá đau khổ trước mất mát này, bà Nức đã phát bệnh thần kinh một thời gian.

Rồi mọi chuyện cũng nguôi ngoai, đến năm 1979, vợ chồng ông lại đón nhận thêm niềm vui mới. Cậu con trai thứ 2 chào đời mạnh khỏe, được đặt tên là Đỗ Văn Trị. Nhưng rồi tiếp bước anh trai, đứa bé chỉ ở bên cha mẹ tròn 2 tháng thì mất bởi chứng to đầu, vàng da.

Những năm đó, khái niệm “chất độc da cam” vẫn chưa được định nghĩa rõ ràng, không ai mường tượng ra nguyên nhân cướp đi sinh mạng của những đứa trẻ vô tội này. Hai vợ chồng ông vẫn luôn khát khao có một đứa con khỏe mạnh. Đến năm 1981, cô con gái Đỗ Thị Bình ra đời trong sự lo âu của cha mẹ. Họ sợ rằng con gái có thể sẽ lại như 2 người anh. May mắn thay, Bình lớn lên khỏe mạnh, xinh đẹp.

Một năm sau đó bà Nức lại tiếp tục mang thai với mong muốn rằng nhà sẽ có đủ nếp đủ tẻ. Thế nhưng cậu con trai mới chào đời, ông bà còn chưa kịp đặt tên đã lại đi theo những người anh của mình.

Không đầu hàng số phận, bà Nức vẫn tiếp tục mang thai, nhưng rồi đứa thứ 5, thứ 6…rồi cho đến đứa thứ 15 vẫn không thể ở lại bên ông bà lâu như mong đợi. Trong tổng số 15 lần sinh nở thì có 12 đứa con ra đi, còn lại Bình khỏe mạnh, Hằng và Nga phải chịu di chứng nặng nề chất độc da cam, sống trong khổ sở.

Hiện tại, Bình là niềm hy vọng duy nhất của ông bà. Sau nhiều khó khăn, cô đã lập gia đình với một chàng trai làng bên và có đứa con gái 4 tuổi. Thế nhưng thỉnh thoảng Bình vẫn lên cơn đau đầu, có lần cô lăn ra ngất xỉu vì quá đau. Thương con, ông Địu chỉ biết ngày ngày thắp nhang cầu khấn, mong rằng có phép màu nào đó mà nỗi ám ảnh “chất độc da cam” có thể tha cho Bình và cháu ngoại của mình.

Nỗi đau người cha 12 lần tự tay chôn con trên cát

Nỗi đau tận cùng của người cha chôn 12 con trong cát trắng

 Chiều chiều ông lại lên ngọn đồi cát sau nhà, thắp hương và ngồi lại trò chuyện cùng các con

Cuộc sống gia đình của Bình, người con gái duy nhất của ông bà còn mạnh khỏe, cũng không được êm thấm. Biết lịch sử gia đình của cô nên trước kia nhà chồng ngăn cản nhưng hai người vẫn quyết đến với nhau. Giờ mỗi khi Bình lên cơn đau mọi người xa gần lại bàn tán không ngớt. Cô và đứa con nhỏ phải dắt nhau về tá túc nhà cha mẹ.

Ông Địu bảo mình cũng không hề trách móc nhà thông gia, vì ông hiểu nỗi sợ da cam nó ghê gớm như thế nào. Ngày ngày, ông cầm một bó nhang lớn vòng lên đồi cắt trắng sau nhà. Đây là nơi yên nghỉ của 12 người con, là nơi ông đã tự tay chôn nỗi đau của mình.

Ông Địu bảo, trước kia ông chôn các con rải rác ở nghĩa địa ven biển. Nhưng rồi nghĩ để anh em được ở gần nhau, ông đã mang tất cả về gò cát ngay sau nhà. Cứ chiều chiều ông lại ra thắp nhang rồi trò chuyện với các con.

Nhìn những nấm mộ, chỉ là một lùm cát, được xếp ngay ngắn thành 3 hàng dọc mà lòng quặn lại, xót xa. Trên mộ là những tấm bia nhỏ xíu, không ghi tên tuổi mà được đánh dấu từ số 1 đến 12. Bên cạnh hàng mộ là dòng chữ: “Đỗ tộc hiện khảo tình thâm cốt dục”.

Ở vùng biển này, ngày đêm gió thổi dữ dội, những đụn cát từ nơi đâu có thể bay đến, lấp đi những ngôi mộ nhỏ bé này. Thế là ông Địu lại tự tay vun lại từng ngôi mộ cho con, như ông đã từng chăm bẵm khi chúng còn nhỏ. Rồi để có thể bảo vệ cho các con, ông trồng những hàng dương xung quanh để giúp chắn gió, chắn cát.

Chiến tranh đã lùi xa gần 40 năm nhưng đâu đó trên dải đất hình chữ S này vẫn còn in hằn dấu vết. Đó là nỗi đau do di chứng chất độc màu da cam mà người cha từng sống chết ngoài chiến trường, từng chứng kiến bao khổ đau, mất mát từ cuộc chiến, nay lại phải bất lực nhìn các con ra đi.

Đó là những ngày sau này, ông bà và nhiều đồng đội của mình cũng như nhiều người dân không may mắn, sẽ phải sống trong nỗi lo âu, khắc khoải, bởi biết đâu khi mình không còn nữa các con lại phải chống chọi với di chứng da cam đột ngột xuất hiện.

Theo VTC